22 thg 1, 2013

Tầm quan trọng của LỜI CHÚA trong đời sống Kitô hữu


“Nghe nói đến Lời Chúa hay sách gì nói về Chúa thế này thế nọ là thấy chán, không hiểu tại sao”. Thiết nghĩ đây là một chia sẻ rất chân tình, rất thật, không một chút e ngại lo sợ người khác nghĩ không hay về mình, đặc biệt với cương vị một giáo lý viên kỳ cựu, gương mẫu và đặc biệt giỏi như ông.
Lúc đầu tôi thấy hơi shock, nhưng ngẫm nghĩ, tự nhìn lại mình, hành trình đức tin của mình, tôi thấy điều đó đúng với rất nhiều người, trong đó có tôi. Trước đây, và có khi cả bây giờ, tôi thường thích nghe người khác phân tích Lời Chúa bằng cách dùng lý lẽ lý luận thật chắc chắn, không cần các bằng cớ khác cũng trong Thánh Kinh.
Để khám phá lại vai trò của Lời Chúa trong đời sống cá nhân cũng như Giáo Hội, tôi muốn lược lại một số giáo huấn của Giáo Hội hoàn vũ và giáo hội Việt Nam từ sau Công đồng Vatican II.

Giáo huấn của Công Đồng Vatican II

Công đồng Vatican II đã dành nguyên Hiến chế Dei Verbum để nói về Lời Chúa. Trong đó, số 21 nói rõ về tầm quan trọng của Thánh Kinh đối với Giáo hội. Ý thức được tầm quan trọng của Lời Chúa đối với đời sống Giáo hội và đời sống của mỗi Kitô hữu, Công đồng khẳng định:

“Giáo hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu.

Cùng với Thánh Truyền, Thánh Kinh đã và đang được Giáo Hội xem như là quy luật tối cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh ứng và đã được ghi chép một lần cho muôn đời, Thánh Kinh phân phát cách bất di bất dịch lời của chính Chúa và làm vang dội tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua các Tiên Tri cùng với các Tông Ðồ.

Bởi vậy, mọi lời giảng dạy trong Giáo Hội cũng như chính đạo thánh Chúa Kitô phải được Thánh Kinh nuôi dưỡng và hướng dẫn” (DV 21).

Riêng đối với đời sống các tín hữu, Chúa Cha muốn gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ qua Sách Thánh. Như vậy, tiếp cận với Lời Chúa, đọc Thánh Kinh là đi vào một cuộc gặp gỡ, tham gia một cuộc đối thoại.

Ngoài ra, “Lời Chúa còn có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội” (DV 21).

Do đó, có thể nói như thánh Phaolô và thánh Luca: "Thực vậy, lời Thiên Chúa sống động và linh nghiệm" (Dt 4,12) "có khả năng gây dựng và ban gia tài cho mọi người đã được thánh hóa" (Cv 20,32; x. 1Tx 2, 13).

Xác định được tầm quan trọng của Lời Chúa đối với đời sống Giáo hội cũng như mỗi Kitô hữu, Công đồng quyết tâm mở rộng lối vào Thánh Kinh cho các Kitô hữu và đem Lời Chúa đến cho mọi thời đại.

Công việc cụ thể là dịch Sách Thánh ra các ngôn ngữ, nghiên cứu sâu rộng bản văn Thánh Kinh, khuyên nhủ tín hữu học hỏi và đọc Lời Chúa.

Trước hết, Giáo hội như một người mẹ ân cần lo liệu cho các Sách Thánh được dịch ra các thứ tiếng cách thích hợp và đứng đắn hầu ngày càng nhiều người được tiếp cận với Lời Chúa. Kế đến, Giáo hội cố gắng hiểu biết Thánh Kinh ngày càng sâu rộng hơn, hầu không ngừng lấy Lời Chúa nuôi dưỡng con cái mình.

Các nhà chú giải phải ân cần nghiên cứu và trình bày Thánh Kinh hầu lương thực Thánh Kinh được ban bố cách dồi dào cho dân Chúa, để soi sáng trí khôn, ý chí và nung nấu lòng mến Chúa.

Đặc biệt, Công đồng không ngừng khuyến khích con cái Giáo hội chuyên cần học hỏi khoa học Thánh Kinh với tất cả sự hăng say hợp với cảm thức của Giáo hội (x. DV 22).

Theo đó, “tất cả các giáo sĩ, trước hết là các linh mục của Chúa Kitô và những người có bổn phận phục vụ lời Chúa, như các phó tế và những người dạy giáo lý, phải gắn bó với Thánh Kinh nhờ việc chăm đọc và ân cần học hỏi, để khi họ phải truyền đạt kho tàng bao la của Lời Chúa, nhất là trong phụng vụ thánh, cho các giáo hữu được ủy thác cho họ, không ai trong họ sẽ trở thành “kẻ huênh hoang rao giảng lời Thiên Chúa ngoài môi miệng bởi không lắng nghe lời Thiên Chúa trong lòng.[1]” (DV 25).

Công đồng cũng tha thiết khuyết khích mọi Kitô hữu, cách riêng tu sĩ hãy năng đọc Thánh Kinh để học biết “khoa học siêu việt của Chúa Giêsu Kitô” (Pl 3,8) vì “không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô.”[2]

Giáo hội cũng lưu ý mọi người rằng mọi kinh nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì “chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh”[3] (x. DV 25).

Công đồng kết luận phần nói về tầm quan trọng của Thánh Kinh trong Giáo hội bằng một ước mong: “Ước gì nhờ việc đọc và học hỏi sách thánh, “Lời Thiên Chúa được trôi chảy và sáng sủa” (2Tx 3,1), và ước gì kho tàng Mạc Khải, đã được ủy thác cho Giáo Hội, ngày một tràn ngập tâm hồn con người.

Nếu đời sống Giáo Hội được tăng triển nhờ năng nhận lãnh Bí Tích Thánh Thể, cũng thế, cũng có thể hy vọng đời sống thiêng liêng được đổi mới nhờ thêm lòng sùng kính lời Chúa, là lời "hằng tồn tại muôn đời" (Is 40,8; 1 P 1,23-25; DV 26).

Các Tông huấn của Giáo hội hậu Công đồng Vatican II

Được khởi hứng bởi hiến chế Dei Verbum, phong trào đọc và nghiên cứu Thánh Kinh ngày càng phát triển mạnh mẽ trong Giáo hội.

Giáo quyền trong thời gian hậu Công đồng cũng luôn quan tâm và nhắc nhở cũng như hướng dẫn con cái mình ý thức tầm quan trọng của Lời Chúa trong đời sống, đồng thời biết kín múc nguồn ân sủng dồi dào từ việc đọc Lời Chúa hằng ngày.

Trong Tông Thư “Khởi Đầu Ngàn Năm Mới” (39), Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II viết: “Lời Chúa phải trở nên một sự gặp gỡ ban sự sống, theo truyền thống xa xưa và luôn vững chắc về việc đọc Sách Thánh (lectio divina), cho phép rút ra từ bản văn Thánh Kinh Lời Hằng Sống, là lời chất vấn, hướng dẫn và hình thành cuộc sống chúng ta”.

Năm 2008, Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới họp bàn về vấn đề “Để Lời Chúa được phổ biến mau chóng và được tôn vinh” (2 Tx 3,1) với chủ đề “Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ Giáo hội” đã nêu ra những dấu hiệu đáng mừng về việc đọc và học hỏi Lời Chúa trong Giáo hội sau hơn 40 năm Công đồng Vaticanô II khuyến khích.

Tài liệu làm việc có nêu ra những thành quả đáng ghi nhận như việc đọc Lời Chúa (lectio divina) được thực hành nhiều hơn và đa dạng hơn; Sách Thánh được phân phối sâu rộng hơn nhờ các cơ quan tông đồ Thánh Kinh; Các phương pháp và phương tiện truyền thông hiện đại được dùng nhiều hơn trong việc truyền bá Thánh Kinh.

Tuy nhiên, một số khía cạnh của chủ đề vẫn còn là dấu hỏi mở rộng và đặt ra nhiều vấn nạn: Thiếu quen biết với hiến chế “Dei Verbum”; Nhiều người đọc Thánh Kinh hơn, tuy nhiên, họ đọc mà không có đủ kiến thức về toàn bộ kho tàng đức tin, là kho tàng mà Thánh Kinh vốn là thành phần; Cách tiếp cận Lời Chúa trong Phụng Vụ Thánh Lễ đôi khi vẫn còn cần phải tạo ra hiệu quả; Vẫn còn một thứ xa lánh nào đó nơi tín hữu đối với Thánh Kinh...

Với những thao thức trên, Thượng Hội đồng đã làm việc và đưa ra những khẳng quyết cũng như định hướng thúc bách việc phổ biến và đọc Lời Chúa trong Giáo hội.

Thượng Hội Đồng mong ước rằng mỗi một mái ấm gia đình phải có sách Kinh Thánh của mình, Sách phải được đặt ở nơi xứng hợp và được dùng để đọc và cầu nguyện. Vợ chồng phải nhắc nhở nhau rằng “Lời Thiên Chúa cũng là một sự nâng đỡ quí báu giữa các khó khăn của cuộc sống lứa đôi và gia đình”.[4]

Thượng Hội đồng cũng đã khuyến cáo là phải tạo lập những cộng đoàn gồm những gia đình, tại đó các tín hữu cùng nhau thực hành việc cầu nguyện và suy niệm chung những đoạn Kinh Thánh được chọn.[5]

Về phương pháp, Thượng Hội đồng nhấn mạnh tới việc cần phải có một cách tiếp cận bản văn thánh trong tư thế cầu nguyện, coi đó là yếu tố căn bản cho đời sống thiêng liêng của mọi tín hữu. Đặc biệt các ngài nhắc đến phương pháp Lectio divina như một phương pháp trổi vượt hơn các phương pháp khác.

Đây là lối đọc “có khả năng mở các kho tàng Lời Thiên Chúa ra cho tín hữu, và như thế cũng tạo ra cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, Lời hằng sống của Thiên Chúa.”[6]

Đức Giáo hoàng đương kim đã tóm tắt những bước căn bản của lectio việc đọc (lectio) bản văn, việc này dẫn ta tới một câu hỏi liên quan đến việc hiểu biết trung thực nội dung của bản văn: Tự nó, bản văn Kinh Thánh muốn nói gì?

Nếu không có chặng này, bản văn rất có thể chỉ trở thành một duyên cớ để không bao giờ phải ra khỏi các tư tưởng của chúng ta.

Sau đó, là suy niệm (meditatio), với câu hỏi: bản văn Kinh Thánh muốn nói gì với chúng ta? Ở đây, mỗi người riêng tư, nhưng cũng trong tư cách là thực tại cộng đoàn, phải để cho mình bị chạm tới và đặt thành vấn đề, bởi vì đây không phải là cứu xét các lời được nói ra trong quá khứ nhưng là trong hiện tại.

Rồi người ta đi tới phần cầu nguyện (oratio) với câu hỏi: Ta phải nói gì với Chúa để đáp lại Lời Người? Việc cầu nguyện như là khẩn xin, chuyển cầu, tạ ơn và ngợi khen, là phương cách đầu tiên mà Lời Chúa dùng để biến đổi chúng  ta.

Cuối cùng, Lectio divina kết thúc bằng sự chiêm ngưỡng (contemplatio), khi đó, ta đón nhận chính cái nhìn của Ngài để phán đoán thực tại như một hồng ân của Thiên Chúa, và chúng ta tự hỏi: Đức Chúa yêu cầu chúng ta phải hoán cải tinh thần, con tim và  đời sống như thế nào?”.

Rồi ngài trưng dẫn lời thánh Phaolô trong Thư gửi tín hữu Rôma: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2; x. VD 87).

Mặt khác, Lectio divina là một phương pháp năng động vì nó mở ra với việc thực hành, thúc đẩy người tín hữu dâng hiến đời mình cho tha nhân trong tình bác ái (x. VD 203-217).

Nói chung, Đức Giáo hoàng và Thượng Hội đồng đã bày tỏ divina như sau: “Nó mở ra bằng những thao thức trong việc nỗ lực đưa Lời Chúa vào đời sống của Giáo hội, đặc biệt các ngài bận tâm nhiều hơn đến một số thành phần cụ thể trong dân Chúa.

Vai trò Lời Chúa trong gia đình và trong đời sống hôn nhân được các ngài nhắc nhớ một cách trực tiếp. Ngoài ra, vai trò của phụ nữ trong việc tiếp cận với Lời Chúa một cách thân mật được nêu lên như một kinh nghiệm lý tưởng hơn.

Lời mời gọi của Hội đồng Giám mục Việt Nam

Vì hoàn cảnh khách quan của tình hình chính trị, Giáo hội Việt Nam và đặc biệt là các giáo phận miền Bắc tiếp cận với Công đồng Vatican II rất muộn.

Khi họp Hội đồng Giám mục lần đầu tiên sau 1975, có nhiều vùng vẫn chưa biết đến Công đồng Vatican II. Tuy nhiên, với ý thức mạnh mẽ về tầm quan trọng của Lời Chúa trong đời sống Giáo hội, Hội đồng Giám mục đã nỗ lực làm việc và có những chỉ dẫn kịp thời cho các thành phần dân Chúa.

Thư chung 1980 khẳng định rằng để Hội thánh thực sự là Dân Thiên Chúa và hiện diện vì loài người theo ý chỉ Công đồng Vatican II[7]trước hết chúng ta phải không ngừng hoán cải lương tâm và thay đổi cách sống của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đoàn Dân Chúa trong Hội Thánh ở Việt Nam sao cho phù hợp với Phúc Âm hơn.

Công việc này chúng ta thực hiện nhờ lắng nghe Lời Chúa, lãnh nhận các bí tích, chuyên cần cầu nguyện và thành tâm kiểm điểm đời sống (LBTM 15)”[8].

Đặc biệt năm 2005, Hội đồng Giám mục Việt Nam hội họp và ban hành thư chung với chủ đề “Sống Lời Chúa” để cỗ võ việc đọc và thực hành Lời Chúa trong Giáo hội. Ngay từ số đầu tiên, Thư chung đã thúc đẩy việc tìm phương cách sống Lời Chúa trong hoàn cảnh cụ thể của Giáo hội Việt Nam hôm nay.

Hội đồng Giám mục xác tín rằng Đức Giêsu, Lời của Thiên Chúa, luôn hiện diện giữa chúng ta, “vì chính Người nói khi người ta đọc Thánh Kinh trong Giáo Hội” (PV 7) và khuyến khích tín hữu kín múc nơi Lời Chúa sức mạnh thiêng liêng cho đời sống đức tin và luân lý trong mọi hoàn cảnh cuộc đời (x. Thư chung 2005, số 3).

Tuy nhiên, để Lời Chúa trở thành nguồn sống cho các Kitô hữu thì chính họ phải đọc và nghe chính Chúa nói với họ qua bản văn Thánh Kinh. Do đó, các ngài khai triển quyết tâm của Công đồng Vaticanô II trong việc “mở rộng lối vào Thánh Kinh cho các Kitô hữu” (DV 22) với những mục tiêu cụ thể trong hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam:

Phát động và cổ võ để mỗi gia đình có sách Thánh Kinh, ít là Tân Ước; Tạo cơ hội tôn vinh và suy niệm Lời Chúa, riêng từng cá nhân, trong gia đình hoặc cộng đoàn; Dành vị trí trọng yếu cho Lời Chúa trong các giờ cầu nguyện và các việc đạo đức;

Phát huy phương pháp diễn giải phù hợp với từng giới, áp dụng những hình thức phổ biến Lời Chúa bằng các phương tiện truyền thông hiện đại (x. Số 7).

Các đức giám mục tiếp tục xác định vai trò ưu tiên của Lời Chúa trong cuộc sống Kitô hữu: “Yêu mến Thánh Kinh không chỉ thể hiện qua việc phổ biến sách Thánh Kinh, mà còn là siêng năng đọc Lời Chúa trong đời sống và cho đời sống cụ thể của mình. Nói cách khác, đọc Lời Chúa không những để hiểu về Chúa mà còn để tìm hướng đi cho cuộc đời” (số 8).

Thư chung 2005 đã nói nhiều về Lời Chúa, tuy nhiên, có lẽ Thư chung hậu Đại hội Dân Chúa 2010 có một cái nhìn ‘sát sườn’ và đưa ra một định hướng thực tế hơn.

Tổng hợp hiến chế Dei Verbum và Thư chung 2005, Hội đồng Giám mục Viêt Nam khẳng định rằng vì được Lời Chúa qui tụ, Dân Thiên Chúa chỉ có thể được xây dựng vững vàng trên nền tảng Lời Chúa.

Thư chung viết “Được lắng nghe với lòng chân thành và kiên nhẫn, Lời Chúa sẽ trở thành nguồn sống dưỡng nuôi, ánh sáng soi đường và sức mạnh củng cố đức tin của các tín hữu trong mọi hoàn cảnh.

Lịch sử Giáo Hội Việt Nam cho thấy các hình thức sống Lời Chúa qua những việc đạo đức truyền thống như Đàng Thánh Giá, Kinh Truyền Tin, Kinh Mân Côi, Kinh cầu nguyện sớm tối, v.v… đã nuôi dưỡng và củng cố đời sống đức tin của bao thế hệ. Những việc đạo đức ấy thật đáng trân trọng và cần bảo tồn cũng như đổi mới và phát huy.

Đồng thời, các tín hữu Việt Nam cần làm quen với Lời Chúa hơn nữa. Do đó Giáo Hội tại Việt Nam phải “phát động chương trình mỗi gia đình một cuốn Kinh Thánh được đặt nơi xứng hợp, cổ võ đọc và cầu nguyện với Lời Chúa”[9], khuyến khích học thuộc lòng những đoạn Kinh Thánh cốt yếu.

Mọi thành phần Dân Chúa, giáo dân, chủng sinh, tu sĩ và các mục tử, cần tập thói quen đọc và suy niệm Lời Chúa hằng ngày, đặc biệt theo phương thức Lectio divina.[10][11]

Những lời mời gọi làm quen với Lời Chúa của giáo quyền được đưa ra ngày càng nhiều và càng khẩn thiết hơn, tuy nhiên, trong Giáo hội Việt Nam, sự đón nhận chỉ tồn tại trên lý thuyết chứ thực tế thì còn rất giới hạn, đặc biệt trong việc tìm đọc, học hỏi và chia sẻ Lời Chúa. Đức cha Võ Đức Minh nhận định: “trong vòng 40 năm qua, không biết có nơi nào đã triển khai, chứ chưa dám nói tới việc đào sâu Hiến chế tín lý về Mặc khải Dei Verbum ![12].

Chúng ta không thể đổ lỗi hết cho những người có trách nhiệm và cũng không phải lỗi hoàn toàn thuộc giáo dân, tất cả chúng ta đều chịu trách nhiệm trên hiện trạng đó.

Phải chăng Giáo hội Việt Nam chưa có một sự triển khai các dóc quyết được nêu ra trong các Thư chung một cách cụ thể và mãnh liệt như một số nỗ lực của những Giáo hội địa phương trên khắp thế giới, cũng như một vài cố gắng của những cá nhân trong việc giúp các tín hữu tiếp cận với Lời Chúa một cách tích cực hơn.



[1] Augustinô, Serm. 179, 1 : PL 38, 966
[2] Hieronimô, Comm. In Is. Prol. : PL 24, 17.
[3] Ambrosiô, De Officiis ministrorum I, 20, 88 : PL 46, 50.
[4] Bênêđictô XVI, VD 85.
[5] Bênêđictô XVI, VD 85.
[6] Bênêđictô XVI, Sứ điệp chung kết, III, s. 9.
[7] Thư chung 1980, số 6-7.
[8] Thư chung 1980, số 8.
[9] X. Bênêđictô XVI, sđd, 74.
[10] Bênêđictô XVI, sđd, 77-87.
[11] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Thư chung 2011, số 11.
[12] Võ Đức Minh, “40 năm nhìn lại: Dei Verbum và Giáo hội Việt Nam”.

Không có nhận xét nào :

Đăng nhận xét